OLYMPUS On-Demand Library
Add to View

Thông tin liên quan

Mẹo

Các mẹo để giảm hiện tượng ảnh giả


Hình a

 Nếu bạn muốn giảm hiện tượng ảnh giả trong nội soi siêu âm, bạn cần phải hiểu đặc điểm của sóng siêu âm. Khi sóng siêu âm truyền vuông góc qua một vật thể, có thể thu được một hình ảnh rõ nét với tỷ lệ S/N cao. Độ dài tiêu cự của mỗi đầu dò được điều chỉnh để cho được hình ảnh có độ phân giải tốt nhất. Nhìn chung, độ dài tiêu cự tối ưu của đầu dò siêu âm là từ 2 đến 3cm. Một đặc điểm khác của sóng siêu âm là tần số sóng càng cao thì hình ảnh thu được càng sắc nét. Tuy nhiên, tần số sóng càng cao sẽ đi cùng với sự giảm độ xuyên thấu của sóng (làm cho việc quan sát các cấu trúc ở xa trở nên khó hơn). Mặt khác, tần số sóng càng thấp thì càng dễ đi sâu hơn, nhưng hình ảnh thu được sẽ bị nhiễu hơn.
Loại hiện tượng ảnh giả đầu tiên và phổ biến nhất là do khí và được tạo ra khi sóng siêu âm phản xạ trên bề mặt ranh giới giữa khí và nước. Loại bỏ hiện tượng ảnh giả do khí là một thách thức cho bác sĩ làm nội soi siêu âm. Hãy đưa ống soi vào đến vị trí mong muốn trong khi cố gắng bơm càng ít khí vào ống tiêu hóa càng tốt. Tuy nhiên, đưa ống soi qua môn vị mà không bơm khí là việc khá khó. Điều này phụ thuộc vào sự khéo léo của mỗi bác sĩ. Hãy bơm một chút khí và đẩy ống soi vào; sau đó rút nhẹ ống soi trong khi vẫn đảm bảo rằng đầu dò siêu âm vẫn nằm ở hành tá tràng. Khi đầu ống soi quay trở lại hang vị, hãy hút bớt khí trong dạ dày (Hình a). Ngoài ra, đẩy ống soi vào tới gối dưới tá tràng khi ống soi ở tư thế ống soi ngắn; sau đó hút khí hoặc bơm nước ấm vào để đẩy bớt khí. Nói một cách khác, để giảm hiện tượng ảnh giả, bạn cần phải loại bỏ khí (Hình b). Nếu như sau khi thử các cách trên mà bạn vẫn gặp hiện tượng ảnh giả, bạn có thể thử loại bỏ khí giữa đầu dò siêu âm và thành ống tiêu hóa bằng cách bơm bóng siêu âm và thay đổi tư thế nằm của bệnh nhân.
Loại hiện tượng ảnh giả thứ 2 là do sóng siêu âm phản xạ trên thành ống tiêu hóa (ảnh giả do các bước sóng cấu thành có cùng giá trị hoặc có giá trị lớn hơn so với bước sóng chính) (grating lobe artifact). Điều này có thể gây khó khăn khi quan sát các cấu trúc túi và ống. Để giảm hiện tượng ảnh giả này, sử dụng chức năng tăng cường hình ảnh (THE) có thể có hiệu quả (xem chương Các chức năng) (Hình c).
Loại hiện tượng ảnh giả thứ 3 (đa âm) gây ra do sự dội lại của sóng siêu âm giữa đầu dò siêu âm và bóng siêu âm. Bởi vì sử dụng chức năng THE cũng không thể làm giảm loại hiện tượng ảnh giả này, việc thay đổi kích thước bóng siêu âm là một giải pháp nếu như hiện tượng ảnh giả này làm cho việc Hình a quan sát các tổn thương trở nên khó khăn.

Cơ bản

Ưu và nhược điểm của nội soi siêu âm đầu dò radial


 Nội soi siêu âm đầu dò convex và đầu dò radial thường được so sánh với nhau. Cả 2 đều có những ưu và nhược điểm riêng.

 

 Nội soi siêu âm đầu dò radial được phân biệt bởi khả năng cho hình ảnh siêu âm 360 độ so với trục của ống soi. Điều này giúp ống soi có thể quét được rộng qua một loạt các khu vực, bao gồm cả ống mật chủ và tụy nằm bên ngoài ống tiêu hóa, mà không cần phải điều khiển ống soi quá nhiều. Khi nội soi siêu âm túi mật, ống mật chủ, bờ xa của đuôi tụy và ống tụy chính, sử dụng nội soi siêu âm đầu dò radial thường là tốt hơn bởi vì việc định vị một tổn thương sẽ dễ dàng hơn khi mà những khu vực này được quan sát theo mặt cắt dọc. Đây cũng là khả năng làm cho nội soi siêu âm đầu dò radial trở thành một lựa chọn phổ biến trong nội soi sàng lọc ở Nhật Bản.
EUS-FNA đã phát triển nhanh trong những năm gần đây. Ngày càng có nhiều cơ sở y tế ở Nhật Bản cũng sử dụng nội soi siêu âm đầu dò convex trong sàng lọc. Như đã được chỉ ra trong một nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng so sánh giữa nội soi siêu âm đầu dò convex và nội soi siêu âm đầu dò radial được thực hiện bởi Kaneko và các cộng sự, việc xác định ranh giới khu vực chuyển tiếp giữa đầu/thân tụy và vùng rốn gan sử dụng nội soi siêu âm đầu dò radial có thể không tốt hơn so với sử dụng nội soi siêu âm đầu dò convex. Một nhược điểm khác của nội soi siêu âm đầu dò radial là không thể thực hiện thủ thuật chọc hút kim nhỏ EUS-FNA dù cho việc xác định ranh giới có tốt như thế nào đi nữa. Trước khi quyết định thực hiện nội soi siêu âm đầu dò radial, hãy chắc rằng bạn hiểu đầy đủ cả những điểm mạnh và điểm yếu của nó.

Cơ bản

Vai trò của chụp mật tụy cộng hưởng từ MRCP trước khi thực hiện nội soi siêu âm


Hình a

 Khi quan sát bằng nội soi siêu âm, hạn chế bơm khí là cần thiết để thu được hình ảnh nội soi siêu âm chất lượng tốt. Điều này làm cho việc xác định chính xác vị trí của đầu dò siêu âm trên màn hình nội soi trở nên khó khăn. Trong trường hợp này, ước lượng vị trí của đầu dò siêu âm bằng cách đánh giá hình ảnh nội soi siêu âm là rất quan trọng.

 

 Vấn đề này là một trong những lý do lớn nhất làm cho những bác sĩ mới bắt đầu học sẽ cảm thấy nội soi siêu âm rất khó. Để giải quyết vấn đề này, hãy dùng MRI ổ bụng (MRCP) trước khi làm nội soi siêu âm để quét những khu vực tương ứng. Hãy để các hình ảnh MRCP cùng với các hình ảnh nội soi siêu âm trước mặt bác sĩ nội soi để các bác sĩ có thể so sánh chúng trong lúc soi (Hình a). Điều này sẽ làm cho việc quan sát nội soi siêu âm trở nên dễ dàng hơn.
Ví dụ như, bằng việc hiểu mối tương quan giữa vị trí của túi mật, gan và sự thay đổi của ống mật chủ, bạn sẽ ước chừng được vị trí của đầu dò siêu âm từ nơi mà túi mật và ống mật chủ có thể được quan sát thấy dễ dàng nhất. Hơn nữa, việc hiểu về tình trạng giãn và tắc ống mật chủ và ống tụy chính có thể làm cho việc so sánh hình ảnh mặt cắt dọc khi nội soi siêu âm so với hình ảnh MRCP trở nên dễ dàng hơn.

Các từ viết tắt trong cuốn sổ tay này

Content Type